
Trong tiến trình phát triển đất nước, việc quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản luôn được Đảng và Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ quan trọng, gắn chặt với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, đồng thời xác định “Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức…”[2] là một trong những đột phá chiến lược thúc đẩy tăng trưởng. Cụ thể hóa Văn kiện Đại hội XIV, nhiều công trình giao thông trọng điểm quốc gia, công trình an ninh quốc phòng phục vụ phát triển nhanh và bền vững khu vực Đồng bằng sông Cửu Long được triển khai với tiến độ khẩn trương. Tuy nhiên, để đáp ứng tiến độ, hiệu quả đầu tư, các công trình đang đòi hỏi nguồn vật liệu xây dựng rất lớn, trong đó có cát san lấp.
Thực hiện nghĩa vụ địa phương đối với sự phát triển của đất nước, tỉnh Vĩnh Long đã chủ động rà soát, đánh giá trữ lượng, chất lượng cát và điều kiện khai thác cát trên địa bàn; tổ chức nghiên cứu, tham vấn ý kiến chuyên gia, tính toán kỹ lưỡng các yếu tố liên quan đến dòng chảy, môi trường và an toàn khu vực. Trên cơ sở đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã thống nhất chủ trương khai thác các mỏ cát đủ điều kiện là mỏ NTSH.10 và mỏ NTSH.10a trên sông Hậu (thuộc khu vực xã Lục Sĩ Thành và An Phú Tân).
Việc đưa các mỏ cát vào khai thác được thực hiện theo đúng quy định của Luật Địa chất và Khoáng sản, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương. Các phương án khai thác đều đã được xem xét, đánh giá tác động một cách thận trọng, với yêu cầu xuyên suốt là đảm bảo an toàn cho dòng sông, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến đời sống và tài sản của Nhân dân. Hoạt động khai thác được kiểm soát trong ngưỡng cho phép, có giám sát chặt chẽ và kịp thời điều chỉnh khi có phát sinh.
Việc khai thác 2 mỏ cát không chỉ cung cấp nguồn vật liệu cho các công trình an ninh, quốc phòng khẩn cấp, công trình trọng điểm quốc gia, mà còn góp phần điều chỉnh dòng chảy, đưa dòng chảy ra xa bờ xã Lục Sĩ Thành (ở cả 02 khu mỏ), xa bờ xã An Phú Tân (khu mỏ cấp cho Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn), hạn chế nguy cơ sạt lở bờ sông tại 2 xã Lục Sĩ Thành và An Phú Tân (vì hiện tại, đoạn sông khu vực thuộc xã Lục Sĩ Thành và xã An Phú Tân đã và đang hình thành cục bộ các bãi bồi giữa lòng sông dẫn đến dòng chảy, lạch sâu hình thành sát bờ xã Lục Sĩ Thành và bờ xã An Phú Tân, nguyên nhân gây sạt lở bờ); tăng nguồn thu ngân sách; tạo việc làm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Quan trọng hơn, khi các tuyến giao thông hoàn thành, tạo điều kiện để tỉnh mở rộng kết nối giao thương, thu hút đầu tư, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống Nhân dân, thiết thực góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 02 con số mà Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I đã đề ra.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, một bộ phận người dân còn băn khoăn, lo ngại về những tác động đến môi trường, sinh kế và đời sống. Đây là tâm lý chính đáng, cần được lắng nghe, chia sẻ và giải quyết thỏa đáng. Tỉnh đã và đang chỉ đạo triển khai đồng bộ nhiều giải pháp vừa khai thác hiệu quả các mỏ cát vừa bảo vệ cảnh quan, môi trường và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho bà con, như: chạy mô hình thủy lực để mô phỏng, đánh giá các tác động đến đường bờ, lòng sông khi khai thác, thực hiện cắm cọc giám sát 02 bờ sông để theo dõi, giám sát tình trạng sạt lở (nếu có), đo vẽ địa hình đáy sông định kỳ 01 tháng/01 lần để theo dõi độ sâu khai thác, (Luật Địa chất và Khoáng sản quy định 06 tháng/01lần), ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, lắp đặt camera chuyên dụng giám sát hoạt động khai thác cát, thiết lập các kênh thông tin để người dân tham gia giám sát…
Sự đồng thuận của Nhân dân là chìa khóa thành công của mỗi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Mỗi người dân cần phát huy hiệu quả quyền và nghĩa vụ công dân đối với sự phát triển của đất nước; cần hiểu đúng bản chất của chủ trương khai thác cát phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia; đồng thời, tỉnh táo trước những thông tin chưa được kiểm chứng trên không gian mạng, tránh bị tác động bởi những thông tin chưa được kiểm chứng trên không gian mạng, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Sự đồng hành, chia sẻ và giám sát của Nhân dân chính là yếu tố quan trọng để đảm bảo quá trình triển khai được công khai, minh bạch và hiệu quả.
Với quyết tâm của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của Nhân dân, tin tưởng rằng, chủ trương khai thác cát phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia sẽ được triển khai đúng quy định, an toàn, hiệu quả, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của đất nước. Mỗi khối cát hôm nay không chỉ góp phần xây dựng những công trình giao thông hiện đại, mà còn là nền tảng cho tương lai phát triển bền vững, thịnh vượng của quê hương và đất nước.
Đồng thuận hôm nay - phát triển ngày mai!
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Vĩnh Long
Sở Nông nghiệp và Môi trường
[1] Điều 53, Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
[2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
